image banner
Lịch sử - văn hóa Chùa Khoi (Đăng Khôi tự)
Lượt xem: 1349
hay còn gọi là chùa Khánh Đá

CHÙA KHOI (Đăng khôi tự)
  LỊCH SỬ - VĂN HÓA

 

 I. Lịch sử xây dựng chùa

Chùa Khoi tên chữ là Đăng Khôi tự lạc tại thôn Tiền, xã Nam Toàn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ngoài hai tên gọi này chùa còn có một tên gọi khác gắn với sự tích kỳ lạ. Tương truyền, làng Giang Tả xưa kia bốn bề có sông ngòi chằng chịt, mênh mông nước. Một hôm, có cây khách đá nổi lên mặt nước trôi trên đầu làng. Nhân dân trong làng thấy sự lạ rủ nhau tới xem. Dân thôn Tiền đã khiêng được cụ khánh đá vào đặt tại chùa làng. Từ đó, nhân dân đã gọi chùa là chùa Khánh Đá. Hiện nhân dân địa p hương vẫn lưu truyền bài thơ ghi nhớ lịch sử này:

Tương truyền

Một đêm gió lớn mưa to

Khánh chìm Khánh nổi, O! O! Khánh về

Tiếng truyền lan khắp làng quê

Linh thiêng đất thánh Khánh về Đăng Khôi

Khánh kêu vang bốn phương trời

Tâm linh cửa Phật, Đăng Khôi: Trung, Tiền

Chùa làng trời, Phật tạo nên

Trời cho giếng ngọc hương sen ngọt ngào.

Mắt long nghiêng bóng cao cao

Trời cho bến nước xôn xao Khánh về

Theo truyền thuyết dân gian, chùa Khoi được xây dựng từ rất sớm. Chùa tọa lạc trên thế đất hình đầu rồng. Theo thuyết phong thủy xưa đó là địa thế đẹp, nhân dân có thể an cư, lạc nghiệp. Cạnh chùa còn có Văn chỉ thờ đức Khổng Tử - ông tổ của đạo Nho cùng các bậc tiên hiền của làng và Nhà quan thờ Thần.

Dù chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào nói tới niên đại xây dựng ngôi chùa, nhưng qua những cổ vật hiện được lưu giữ tại đây đã cho thấy điều đó. Đặc biệt có mặt của vệ đá hoa sen mang phong cách nghệ thuật thời Trần  (1225 – 1400) cho phép chúng ta suy đoán, ngôi chùa có thể xuất hiện cách ngày nay khoảng 700 năm. Hoặc ít ra, ngôi chùa cũng có từ thời Hậu Lê. Công trình kiến trúc của chùa hiện nay được xây dựng theo kiểu: “Tiền đao, hậu đốc”, một đặc trưng kiến trúc của thời Hậu Lê. Đáng chú ý, ở chùa có rất nhiều mảng chạm khắc gỗ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII – XVIII. Cây khánh đá của chùa gắn với sự tích kỳ lạ cũng được đoán định có niên đại cùng với công trình kiến trúc thế kỷ XVII – XVIII.

Đến thời Nguyễn (1802 – 1945), chùa Khoi được trùng tu nhưng vẫn vảo lưu được phong cách kiến trúc của thời Hậu Lê. Thượng lương (cây nóc) của chùa có khắc dòng chữ Hán xác nhận niên đại trùng tu vào năm Định Hợi (1887), triều vua Đồng Khánh. Nhiều di vật và đồ thờ tự ở đây cũng xuất hiện từ thời Nguyễn, như hệ thống tượng pháp, câu đối, bát hương … Riêng quả chuông đồng có khắc ghi niên đại cụ thể: Niên hiệu Duy Tân nguyên niên (1907).

Sau lần trùng tu dưới thời Nguyễn, để bảo vệ ngôi chùa trước sự hủy hoại của thời tiết khắc nghiệt và sự tàn phá của chiến tranh, nhân dân thôn Tiền đã nhiều lần hưng công tu sửa, tôn tạo di tích. Điều đó đã thể hiện tấm lòng mộ đạo, trân trọng những di sản văn hóa quý báu mà cha ông xưa để lại cho các thế hệ người dân quê hương hiện nay và mãi về sau.

II. Nghi thức thờ tự tại chùa

Chùa Khoi thờ tự theo nghi thức “Tiền Phật, hậu Thánh”, cùng với việc thờ Phật, nhân dân còn tôn thờ 2 vị Thánh tổ là Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải.

Đức Thánh tổ Dương Không Lộ (1016 – 1094):

Đức Thánh tổ họ Dương, húy là Minh Nghiêm, hiệu là Không Lộ, quê ở Hải Thanh, Giao Thủy (Nam Định). Ông sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn, niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016), đời vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) tại quê mẹ: Phủ Ninh Giang (Hải Dương). Tại đây hiện còn ngôi chùa Hưng Long do Thánh tổ lập ra, tục gọi là chùa Tôn. Trước chùa có con sông chín khúc. Tương truyền mẹ Đức Thánh tổ đã sinh ra ngài ở đây.

Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ xuất thân trong một gia đình nhiều đời làm nghề đánh cá, nhưng ngại lại rất giỏi thơ văn và sùng bái đạo Phật. Ngài đã chu du nhiều nơi trong tỉnh, xa hơn là Yên Mô (Ninh Bình), Tống Sơn (Thanh Hóa)… Đi đến đâu ngài cũng làm thơ và chữa bện cho nhân dân, được dân hết sức mến mộ.

Năm giáp Thân, niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 2 (1044), đời vua Lý Thái Tông, ở tuổi 29, ngài bỏ nghề đánh cá theo học đạo Thiền (Thiền phái Vô Ngoon Thông, ngài thuộc đời thứ 9), thường đọc kinh Đà la ni môn, mặc áo đỏ, ăn chay, dường như quên hẳn thân mình, đoạn tuyệt mọi việc trên đời.

Năm 42 tuổi (năm Đinh Dậu, niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057), đời vua Lý Thánh Tông, ngài theo học Thiền sư Thảo Đường. Sách An Nam Chí lược viết: Thảo Đường Thiền sư là người có đạo hạnh, tinh thông kinh điển. Vua Lý tôn ông làm Quốc sư. Sư Thảo Đường đã nhận xét về Không Lộ như sau: “Anh này cốt cách phi phàm, ngày sau hẳn nối được pháp tự”.

Năm 44 tuổi (năm Kỷ Hợi, niên hiệu Chương Gia Khánh thứ nhất (1059), đời vua Lý Thánh Tông), ngài tu ở chùa Hà Trạch (Hiệp Hòa, Bắc Ninh), kết bạn cùng Nguyễn GiácHải và Từ Đạo Hạnh, tôn Từ Đạo Hạnh làm anh cả, ông là anh thức còn Nguyễn GiácHải là em. Sauk hi kết bạn, cả ba ngài đều về chùa Diên Phúc tu hành. Chùa này, sau đổi là Viên Quang ở làng Hộ Xá (nay thuộc xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định).

Năm 45 tuổi (năm Canh Tý, niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh 2 (1060), Đức Thánh tổ cùng hai vị Đạo Hạnh và GiácHải sang Thiên Trúc để học phép thuật. Khi đến đất Kim Sở Nam (Vân Nam, Trung Quốc), ngài cùng sư GiácHải lên bờ đi trước. Đạo Hạnh ở lại thuyền, đợi mãi không thấy hai bạn trở về, trong lòng lấy làm nghi hoặc. Bỗng thấy một bà già đi đến bờ sông, Đạo Hạnh hỏi: “Cụ có thấy hai nhà sư không”. Bà cụ đáp: “Hai nhà sư ấy đã thụ giáo Đức Như Lai, được truyền tâm ấn và đã quay về lâu rồi”. Đạo Hạnh biết bà già đó không phải là người thường, bèn quỳ xuống xin thụ giáo. Bà cụ liền truyền cho các phép rút đất, qua bể, vượt núi. Đạo Hạnh lạy ta rồi trở về chủa Yên Sơn (Sơn Tây, Hà Nội), còn Không Lộ và GiácHải về chùa Diên Phúc (Xuân Trường, Nam Định) tu hành.

Năm Qúy Mão (1063), ngài 48 tuổi, cho xây dựng chùa Nghiêm Quang tại trang Dũng Nhuệ thuộc đất Giao Thủy. Cả hai ngôi chùa: Nghiêm Quang (thuộc trang Dũng Nhuệ) và Diên Phúc (Viên Quang) thuộc ấp Hộ Xá đều thuộc làng dân gian gọi chung là chùa Giao Thủy. Vì “Giao” có nghĩa là Nôm là “Keo” nên chùa Giao Thủy cũng có tên là chùa Keo. Sau này cả hai ngôi chùa này đều được đổi tên là Thần Quang. Vào thời nhà Trần, vì thấy đây  là nơi cảnh đẹp nên các vua Trần thường lui tới trang Hộ Xá nên Hộ Xá mang tên là Hành Cung trang. Đến năm Tân Hợi (1611), một trận lũ lớn đã nhấn chìm làng Giao Thủy xuống sông Nhị Hà (sông Hồng), những người dân làng Giao Thủy phải di cư đến miền đất mới. Dân Dũng Nhuệ dời sang tả ngạn sông Hồng (thuộc đất Vũ Thư, Thái Bình ngày nay) lập nên làng Dũng Nhuệ và xây chùa Keo mới (tục gọi là chùa Keo trên). Còn dân trang Hành Cung chuyển cư về phía đông nam hữu ngạn sông Hồng lập làng và xây chùa Keo mới. Đến đời vua Minh Mệnh (1820-1840), trang Hành Cung gọi là xã Hành Cung, sau đổi là Hành Thiện (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Để phân biệt chùa Keo bên làng Dũng Nhuệ (Thái Bình), nhân dân ở đây thường gọi ngôi chùa của làng mình là chùa Keo dưới hay chùa Keo Hành Thiện.

Năm Tân Hợi (1071), đời vua Lý Thánh Tông, ngài 57 tuổi thì điện Mộng Long hoàn thành. Nhà vua ngự ở trên điện, bỗng ở trên điện có 2 con tắc kè kêu nhau. Vua liền bị bệnh không thuốc nào chữa được. Quan Khâm sai phải đem thuyền đi đón Không Lộ và GiácHải. Đi theo quan Khâm sai là đoàn tùy tùng khoảng hơn 50 người. Ngài lấy 3 thưng gạo để thổi cơm thết đãi. Mọi người cười ầm lên. Ngài nói: “Bần tăng ít gạo, gọi là có ít tình thôi”. Đến lúc ăn cơm, mọi người không sao ăn hết được. Cơm xong, tất cả xuống thuyền thì trời đã tối. Ngài nói với mọi người: “Xin hãy tạm nghỉ ngơi, sáng mai gà gáy hãy lên đường cũng chưa muộn”. Đến hẹn, ngài gõ vào mạn thuyền ba tiếng, phút chốc thuyền đã đến bến Đông, kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Mọi người đều kinh ngạc, khen tài, rồi dẫn Không Lộ và GiácHải vào bệ kiến. GiácHải nhường ngài trổ tài trước. Ngài niệm chú ba tiếng, tiếng tắc kè im bặt. Ngài nhường GiácHải. GiácHải lấy mấy hạt châu gõ vào cột điện, khoẳng khắc, đôi tắc kè rơi bộp xuống đất, bệnh nhà vua dần khỏi. Nhà vua tặng cho ngài và GiácHải 1.000 lạng bạc, 500 khoảng ruộng, tôn ngài làm Quốc Sư và ban Quốc tính cho GiácHải. Nhà vua còn làm bài thơ ca ngợi:

Giác Hải tâm như Hải,

Thông Huyền đạo cánh huyền.

Thần thông năng biến hóa.

Nhất Phật nhất thần tiên.

Nghĩa là:

Giác Hải lòng như bể,

Thông Huyền đạo rất huyền

Thần thông kiêm biến hóa.

Một Phật, một thần tiên.

Đức Thánh tổ Dương Không Lộ đã dùng số tiền vua ban thưởng để đúc chuông đồng lớn nặng 3.300 cân cho chùa Nghiêm Quang.

Phép tắc huyền diệu của Thánh tổ ngày càng vang xa, cưỡi mây lướt nước, hàng rồng, trị hổ, muôn kỳ vạn lạ, không ai bì kịp. Ngài thường vân du đến Hành Cung, Giao Thủy (Nam Định), Sơn Tây (Hà Nội), Phả Lại (Bắc Ninh) … Những nơi ngài đặt chân đến đều trở thành danh lam. Ngài còn đi quyên đồng về chùa Phổ Minh, hương Tức Mạc (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định) đúc ra đồng nặng 1.000 cân là một trong “Tứ đại khí” của nước Đại Việt. Sau này, khi quân Minh chiếm nước ta, chúng đã vạc để đúc khí giới đánh phá nghĩa quân Lam Sơn của Bình Định vương Lê Lợi.

Ngày mồng 3 tháng 6 năm Giaps Tuất (1094), Đức Thánh tổ hóa, thọ 79 tuổi. Sau khi Thánh tổ hóa, nhân dân ở những địa phương nơi ngài đã dừng chân truyền đạo, khuyến thiện, trừ ác đều lập đền, dựng chùa để thờ ngài, trong đó có chùa Khoi (Đăng Khôi tự) thuộc thôn Tiền, xã Nam Toàn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Truyền thuyết địa phương cho biết: Trong quá trình hai vị Thánh tổ đi truyền bá đạo Phật đã có một thời gian các ngài lưu lại trên mảnh đất quê hương. Vị trí hai vị Thánh tổ dựng ngôi nhà tạm cư ngụ nằm trên bãi đất ở giữa cánh đồng Khoi thuộc thôn Tiền (xã Nam Toàn, huyện Nam Trực). Có lẽ vì vậy mà sau khih hai ngài mất, nhân dân ở đây đã dựng ngôi chùa thờ “tiền Phật, hậu Thánh” và lấy tên là chùa Khoi.

* Công trình kiến trúc chùa

Chùa Khoi là một công trình tôn giáo, tín ngưỡng khá tiêu biểu và độc đáo với lối kiến trúc “tiền đạo, hậu đốc” mang đặc trưng phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, thế kỷ XVII – XVIII.

Ngôi chùa có 5 gian với 2 tòa: Tòa bái đường 2 gian có kích thước sâu 4,60m; rộng 5,10m và tà tam bảo 3 gian có kích thước sâu 6,80m;rộng 5,10m. Bộ khung ngôi chùa được dựng hoàn toàn bằng gỗ lim với 6 bộ vì thiết kế theo kiểu “chồng rường, kẻ bẩy”. Bộ phận chịu lực của các bộ vì là 10 cây cột cái (cao 2,97m, đường kính 0,23m) và 14 cây cột quân (cao 2,19m, đường kính 0,23m). Tất cả các cây cột đều được tạo dáng búp đòng và đặt trên các chân tảng đá tạo thế vững chắc cho công trình.

Hệ mái của chùa gồm các cấu kiện: Hoành, dui làm bằng gỗ lim, bên trên lợp ngói nam. Trên mái có xây đường bờ nóc và thiết kế các đầu đao uốn cong mềm mại theo phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê, thế kỷ XVII-XVIII.

Để tăng thêm giá trị nghệ thuật cho công trình kiến trúc chùa, các nghệ nhân xưa đã chạm khắc nhiều đề tài phong phú và đa dạng trên bức thuộn – bộ vì ngăn giữa bái đường và tam bảo. Tại các cấu kiến: Con rường, câu đầu, trụ, đấu đó … nghệ nhân đã chạm bong, chạm thông phong các đề tài: Rồng, rồng chầu mặt trời, là hỏa, tứ quý: Tùng, cúc, trúc, mai, triện tàu lá dắt. Đặc biệt tại 2 cây cột cái của bộ vì này và hệ thống cửa (kích thước cao 1,25m, rộng 0,87m) có chạm bong đề tài: Rồng cuốn, chữ triện. Tại 2 cây xà lòng gian trong của tòa bái đường dài 2,19m cũng chạm đề tài: Rồng cuốn cùng các linh vật: khỉ, chó, chim phượng. Hình rồng – biểu tượng của uy quyền được đặc tả với dáng vẻ chắc mập, khỏe khoắn, sinh động. Đầu rồng ngẩng cao, bờm lượn song như đang bay lên, đuôi vươn nhẹ hài hòa, xung quanh rồng là các đao mác tua tủa thể hiện sự mạnh mẽ.

Đáng chú ý tại ngưỡng cửa ngăn giữa bái đường và tam bảo còn 2 hình nghê quay (nhìn) ra phía ngoài. Có thể xem 2 con nghê này ngoài chức năng trấn giữ hay kiểm  soát người từ ngoài vào tam bảo (phật điện) lễ Phật, xua đuổi tà ác.

Trên các con đường, xà, bẩy của các bộ vì khác cũng có chạm khắc đề tài: Triệu tàu lá dắt, chữ “Thọ”. Các cấu kiện của gỗ công trình chùa như xà, kẻ, bẩy, câu đầu đều được soi chỉ tạo dáng mềm mại.

Có thể nói, chùa Khoi (Đăng Khôi tự) là một công trình kiến trúc cổ khá tiêu biểu, còn bảo lưu được đường nét kiến trúc cổ truyền dân tộc.

Những di vật, cổ vật văn hóa quý hiếm

Ngoài giá trị về lịch sử và kiến trúc, chùa Khoi (Đăng Khôi tự) còn lưu giữ được nhiều di vật côt vật rất có giá trị. Tiêu biểu là:

- Hệ thống tượng pháp: Tại tam bảo của chùa có bài trí 7 lớp tượng với hơn 20 pho tượng lớn, nhỏ, gồm: Tượng Tam Thế; tượng Quan âm thế chí, Quan âm thị giả, Quan âm thị kính; tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu; tượng Thích ca; tượng Thổ địa, Đường tăng; tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ … và tượng hai vị Thánh tổ Dương Không Lộ, Nguyễn GiácHải.

Các pho tượng được làm bằng chất liệu gỗ, vôi giấy, đất và được sơn thếp theo phương pháp cổ truyền.

Về niên đại, qua chất liệu và họa tiết trang trí, có thể đoán định, hầu hết các pho tượng tại chùa đều có niên đại thời Nguyễn (1802 – 1945). Ngoại trừ pho tượng Quan âm thị giả có niên đại thời Hậu Lê, thế kỷ XVII – XVIII.

- Bệ đá hoa sen: Bệ cao 0,50m; dài 1,60m; rộng 0,68m. Bệ được đặt tại vị trí khá đặc biệt, cao nhất trên phật điện. Có thể do bị di chuyển nhiều lần nên bệ đã bị xê dịch và lạc mất nhiều bộ phận chỉ còn sót lại 2 lớp cánh sen mặt bệ và phần thân bệ chỉ còn nhìn thấy mặt trước.

Bệ có dáng hình khối hộp chữ nhật được ghép từ nhiều khối đá nhỏ lại với nhau với thuật gá lắp chồng xếp các khối đá nhỏ bên nhau và liên kết vững chắc thêm bằng mộng “đuôi cá”.

Đề tài trang trí trên bệ đá chùa Khoi là hoa sen và con rồng. Tại mặt trước của bệ đá có 2 con rồng thời Trần, thân mảnh vận động uốn khúc hình chữ U theo phương thức nằm ngang. Con rồng ở đây rất gần gũi với hình rồng trên tháp Phổ Minh. Hoa sen trên bệ đá được chạm nổi trên phần mặt bệ với 2 lớp sen ngửa. Cánh sen được tỉa thành nhiều lớp với các đường diềm.

Bệ đá hoa sen tại chùa Khoi (Đăng Khôi tự) là một trong 5 bệ đá hoa sen có niên đại cuối thời Trần (thế kỷ XIV) hiện còn trên địa bàn tỉnh Nam Định.

Bệ đá hoa sen tại chùa Khoi nói riêng, nhóm bệ đá hoa sen xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV ở Nam Định đã góp thêm những tư liệu quý trong việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, ý nghĩa tôn giáo, xã hội Đại Việt dưới thời Trần.

Một điều hết sức có ý nghĩa, sự có mặt của bệ đá hoa sen này đã minh xác cho sự xuất hiện của chùa Khoi (Đăng Khôi tự) các đây 700 năm.

- Khánh đá: Có kích thước cao 0,67m; dài 2,55m; dày 0,20m, được làm bằng chất liệu đá xanh. Hiện phần minh văn (nội dung chữ Hán) trên đá đã bị mờ. Song qua đoán định và truyền thuyết dân gian thì cây khánh đá này có niên đại thời Hậu Lê (thế kỷ XVII – XVIII). Sự có mặt của cổ vật này có ý nghĩa rất quan trọng với ngôi chùa, do vậy nhân dân địa phương vẫn quen gọi  ngôi chùa của mình là chùa Khánh Đá.

- Chuông đồng: Có tên  là Đăng Khôi tự chung ( chuông chùa Đăng Khôi), kích thước cao 0,97m, đường kính miệng rộng 0,44m, thành miệng dày 2,5cm. Chuông được đúc thành 3 phần rõ rệt: Miệng chuông đúc gờ nổi có đường viền xung quanh loe ra to hơn phần thân chuông. Thân chuông thon dần về phía trên, xung quanh có các đường gờ nổi chia làm 4 ô cân xứng, mỗi ô có một núm tròn đúc nổi, mỗi núm đánh theo một mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Phía dưới có họa tiết tứ linh: Long, ly, quy, phượng. Quai chuông đúc thành hình rồng đấu thân.

Phần minh văn (chữ Hán) trên chuông nêu tên con dân của 2 thôn: Tiền, Trung trong xã Giang Tả công đức tiền, của để đúc chuông đồng treo tại chùa. Sau cùng là dòng lạc khoản ghi niên đại đúc chuông: Ngày mồng 3 tháng 7 triều vua Nguyễn, niên hiệu Duy Tân 1 (1907).

- Lư hương: Có niên đại thời Nguyễn, gia công bằng chất liệu gỗ, hình dáng tròn, cao 0,45m, đường kính miệng 0,17m, chỗ phình to có đường kính 0,27m. Lư hương được cấu tạo gồm 4 phần: Nắp lư đục chạm hoa tiết sư tử hý cầu; quail ư là họa tiết mây tản; thân lư trang trí lá cúc cách điệu; chân lư tạo dáng chân quỳ. Toàn bộ hiện vật được sơn thếp màu vàng. Nét đặc biệt ở đây là lư hương tại chùa Khoi được làm bằng chất liệu gỗ, trong khi phần lớn lư hương ở các di tích của người Việt được làm bằng chất liệu đồng.

III. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra tại chùa

Theo lệ cũ, hàng năm vào ngày lễ Phật đản (mồng 8 tháng 4), Vu lan (14 tháng 7) nhân dân trong làng, nay là thôn tiền, thôn Trung tổ chức dâng hương, dâng lễ, tụng kinh niệm phật cầu phúc, cầu tài, cầu lộc, cầu Thánh phù giúp cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, con người khỏe mạnh, sống an bình, no ấm.

Ngày kỵ hai vị Thánh Tổ: 13 tháng 9 âm lịch hàng năm, nhân dân tổ chức long trọng nghi thức cổ truyền; Dâng hương, dâng lễ, tế nam quan và nữ quan.

Ngoài ra, vào các lễ tiết khác trong năm và các ngày Sóc (mồng 1), Vọng (rằm) hàng tháng, Ban khánh tiết của làng đều cho mở cửa chùa để nhân dân địa phương và khách thập phương vào lễ Phật, lễ Thánh.

Những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra tại chùa Khoi (Đăng Khôi tự) tuy diễn ra ở phạm vị và quy mô không lớn nhưng đã thể hiện rõ nét truyền thống uống nước nhớ nguồn và tôn sư trọng đạo của dân tộc, đồng thời đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân địa phương.

 

                                          BQL Di tích và Danh thắng tỉnh Nam Định


Tin khác
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
Cơ quan chủ quản: Xã Nam Toàn - Nam Trực
Địa chỉ: xã Nam Toàn - huyện Nam Trực- tỉnh Nam Định
Email: xanamtoan.ntc@namdinh.gov.vn
Chung nhan Tin Nhiem Mang